Chuyện quanh quanh Dâm Đàm: Từ chùa Bà Đanh đến Trường Bưởi

0 Thanh Niên
Nói về sự vắng vẻ, nhiều người vẫn ví von “vắng như chùa Bà Đanh”. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội, dân chúng vẫn còn nói đến ngôi chùa này.
Trường Collège du Protectorat (Trường Bưởi) gần Hồ Tây /// Tư liệu Trường Collège du Protectorat (Trường Bưởi) gần Hồ Tây - Tư liệu
Trường Collège du Protectorat (Trường Bưởi) gần Hồ Tây
Tư liệu
Năm 1470, Chiêm Thành lại gây chiến, vua Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đi đánh. Chiêm Thành bại trận, Lê Thánh Tông trở về Thăng Long đem theo rất nhiều tù binh, trong số đó có nhiều tù binh thuộc dòng dõi quý tộc người Chăm. Lê Thánh Tông đã dành một vùng đất cho họ được sống theo phong tục, tập quán dân tộc mình.
Vùng đất đó chính là phường Thụy Chương bên cạnh hồ Tây. Ông cho xây một khu riêng gọi là Viện Châu Lâm. Trong số tù binh đó có người theo đạo Bà La Môn, có người theo Hồi giáo và người theo đạo Phật. Ðể những người theo đạo Phật có nơi hành đạo, Lê Thánh Tông cho xây một ngôi chùa gọi là Châu Lâm.

Cảnh bà đanh hoa khép cửa chùa

Việc xây chùa Châu Lâm còn ẩn chứa ý khác là để những tù binh theo đạo khác có thể cải đạo. Tuy nhiên việc cải đạo là chuyện không dễ dàng. Mặt khác, chùa dành riêng cho người Chiêm Thành nên người Việt không vào đây. Vì những lẽ đó, chùa Châu Lâm quanh năm vắng vẻ. Theo thời gian, xã hội phong kiến thay đổi, một số người Chiêm Thành được trở về quê, số khác lấy vợ lấy chồng người Việt chuyển đi nơi khác sinh sống khiến chùa Châu Lâm đã vắng lại càng thêm vắng. Tấm bia Chính Hòa 20 (1699) có ghi: “Châu Lâm tự hiệu là chùa Bà Ðanh”.
Sở dĩ có tên nôm là Bà Ðanh vì Bà Ðanh là người trông coi chùa một thời gian dài. Vì vắng người đến chùa lễ bái nên thấy nơi nào vắng vẻ, người ta nói “vắng như chùa Bà Ðanh” và câu này đã trở thành thành ngữ. Trong Tụng phú Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng sáng tác năm 1801 có câu: “Cảnh Bà Ðanh hoa khép cửa chùa”, câu thơ nói lên thực trạng ngôi chùa thời kỳ nhà thơ sống.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội, dân chúng vẫn còn nói đến chùa Bà Ðanh, dù lúc này chùa đã đổ nát. Chùa không có sư trụ trì, trông coi chỉ còn mấy bà vãi, lại không có người đến cúng lễ nên chính quyền thành phố xung công và quản lý khu đất này.

Cái nôi của lớp trí thức trẻ người việt

Năm 1892, một nhà tư bản Pháp tên là Schneider đã được thành phố nhượng lại khu đất để xây cơ sở in và sản xuất giấy, chùa bị dỡ bỏ.
Khi khu đất thuộc quyền sở hữu của mình, Schneider cho xây xưởng in, làm giấy cả hai bên đường Thụy Khuê với tổng diện tích khoảng 30.000 m2. Trên nền chùa cũ ở gò Phượng Chủy, ông ta xây biệt thự để ở theo trường phái kiến trúc nổi loạn. Biệt thự được trang trí hoa văn khác lạ và không giống bất cứ biệt thự nào ở thành phố khi đó. Năm 1907, công việc kinh doanh thất bát, lại thêm mâu thuẫn với chính quyền nên Schneider phải bán lại cơ sở cho chính phủ bảo hộ. Sau khi ra lệnh đóng cửa Trường Ðông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, ngày 9.12.1908, Toàn quyền Ðông Dương Klobukowski ra quyết định thành lập Collège du Protectorat (1), đặt trường ở chính cơ sở của Schneider. Vì Thụy Khuê xưa thuộc vùng Bưởi, nên những học sinh có tinh thần phản kháng lại người Pháp gọi là Trường Bưởi, nhằm tránh gọi cái tên chính thức người Pháp đặt.
Ban đầu Trường Bưởi chỉ có hai dãy nhà ba tầng, sau xây thêm dãy thứ ba cùng kiểu. Văn phòng đặt ở tầng một, tầng ba là phòng nội trú. Trường có bếp ăn, nhà tắm và nơi giặt quần áo. Bãi đất rộng giáp Sở Thủy phi cơ dùng làm sân bóng và tập thể dục. Năm 1931, trường được nâng cấp thành một Lycée du Protectorat (2).
Khi đó ở Hà Nội còn có Trường trung học Albert Sarraut dành riêng cho học sinh người Pháp và họ lấy rất ít học sinh người Việt Nam. Còn Trường Bưởi dành cho học sinh người Việt và cả Bắc kỳ chỉ có duy nhất Trường Bưởi là trung học. Trường là cái nôi của lớp trí thức trẻ người Việt Nam. Một năm trường tuyển ở cả Bắc kỳ 120 chỉ tiêu, do đó ai trúng tuyển là niềm tự hào của gia đình và dòng họ.
Cuối năm 1943, Thế chiến thứ 2 lan rộng, để tránh những cuộc không tập của phi cơ Ðồng minh, trường phải chia làm 3 nhóm sơ tán: một phần về tu chủng viện Phúc Nhạc (Ninh Bình), một phần về Hà Ðông và phần còn lại vào Thanh Hóa. Rồi trường trở thành doanh trại của quân đội Nhật. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, tháng 6.1945, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục - Mỹ thuật trong nội các Trần Trọng Kim, đã đề nghị và ký nghị định xóa bỏ tên Collège du Protectorat, thay bằng tên mới là Quốc lập Trung học hiệu Chu Văn An (Trường trung học Chu Văn An), cử Giáo sư Nguyễn Gia Tường làm hiệu trưởng. Ông Tường là hiệu trưởng người Việt đầu tiên của Trường Bưởi kể từ khi thành lập. Cùng với việc cho dựng bảng Trường Chu Văn An, ông Hoàng Xuân Hãn đã ban hành quy chế học và thi tú tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong trường học và công văn chính thức.
Tinh thần vươn lên thể hiện rất rõ khi học sinh Trường Bưởi luôn cạnh tranh với học sinh Albert Sarraut về kết quả học tập và thể thao. Nhiều học sinh không sợ bị đuổi đã tham gia lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh và tham gia phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu. (còn tiếp)
(Lược trích từ Chuyện quanh quanh Dâm Đàm, NXB Trẻ)
(1) Trường thành chung bảo hộ, tương đương trung học cơ sở hiện nay.
(2) Tương đương trung học phổ thông hiện nay.

Bình luận

User
Gửi bình luận
Hãy là người đầu tiên đưa ra ý kiến cho bài viết này!

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU