Trả giá xuất thô tài nguyên

0 Thanh Niên Online

Từng được coi là “mỏ vàng đen” của châu Á nhưng VN giờ đây đang phải nhập than. Nghịch lý này không gây bất ngờ, thậm chí là tất yếu từ hoạt động của ngành than lâu nay.

Trả giá xuất thô tài nguyên

Theo thông tin từ Bộ Công thương, VN vừa ký nhập khẩu 20 triệu tấn than/năm, nhưng giai đoạn 2006 - 2011 chúng ta đã xuất tới 21 triệu tấn.

Chẳng nói đâu xa, mới chỉ năm trước chúng ta cũng đã xuất khẩu tới gần 13 triệu tấn và đó mới chỉ là con số chính thức, chưa kể đến xuất lậu. Nếu như bây giờ chúng ta đang đau đầu đi tìm đối tác để mua than thì cũng chỉ cách đây 3 năm, năm 2011, VN nằm trong top 5 nước xuất khẩu than lớn nhất thế giới. Trước đây, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu than đá lớn của VN nhưng sang năm nay, tính đến hết tháng 9, theo Tổng cục Hải quan, VN đã nhập khẩu hơn 356.000 tấn than đá từ nước này với tổng giá trị hơn 92,5 triệu USD. Từ vị trí người bán, chúng ta đã “đổi vai” trở thành người mua, người phụ thuộc.

Còn nhớ liên tục nhiều năm, các chuyên gia đã lên tiếng cảnh báo về việc ngành than chỉ chăm chăm “đào than lên để bán” nhưng Vinacomin (Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản VN) không những bỏ ngoài tai mà còn tìm đủ mọi cách để đẩy mạnh xuất khẩu. Như việc xin giảm thuế xuất than từ 13% xuống 10% vào cuối năm 2013 hay biện minh rằng loại than bán đi là than tốt, trong nước không sử dụng... Tư duy và cách làm đó đã biến VN từ một “ông lớn” về trữ lượng than chuyển sang đứng trước nguy cơ thiếu hụt, mua cũng khó vì các nước đều có xu hướng "siết lại", hạn chế tối đa việc bán loại tài nguyên không tái tạo này. Nói như một số chuyên gia, đây là “lời nguyền tài nguyên” mà chúng ta đang phải trả giá. Bởi vì nếu không đủ than với giá hợp lý (chúng ta xuất than với giá rẻ nhưng nhập than thì giá đắt) thì hàng loạt dự án nhiệt điện chạy than sẽ chạy cầm chừng, chuyển địa điểm hoặc đóng cửa.

Không chỉ chuyện nhập than, ngay tại lúc này, việc ngân sách bị ảnh hưởng nặng từ giá dầu thô giảm mạnh cũng là một lời cảnh báo cho việc phát triển dựa vào xuất khẩu tài nguyên. Theo tính toán của Chính phủ, giá dầu thô cứ giảm 1 USD/thùng sẽ làm ngân sách nhà nước hụt thu khoảng 1.000 tỉ đồng. Trong khi đó, giá dầu thô thế giới đã giảm tới trên 30% tính từ đầu năm đến nay và dự báo xu hướng giảm sẽ còn tiếp tục. Vì thế, đây là lúc phải cơ cấu lại nguồn thu ngân sách, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên vì lĩnh vực này không chỉ phụ thuộc biến động trên thị trường thế giới mà còn làm cạn kiệt tài nguyên của đất nước.  

Xuất thô tài nguyên được ví như "ăn thịt chính mình" nhưng nhiều năm qua, tình trạng này vẫn diễn ra khắp nơi và hầu như không thể kiểm soát nổi. Đặc biệt với những ngành khai thác khoáng sản như than, bauxite, titan… chúng ta đều xuất thô với giá rất thấp, chưa kể hàng loạt các ưu đãi kèm theo. Xuất thì dễ nhưng nhập thì không hề đơn giản. Đó là lý do nhiều nước trên thế giới dù sở hữu tài nguyên nhưng "để dành" và tranh thủ nhập khẩu từ nước khác. Như Mỹ có trữ lượng dầu lớn nhưng vẫn nhập khẩu dầu, Trung Quốc nhập than, Na Uy nhập gỗ...

Đã đến lúc phải có biện pháp quyết liệt hơn để dừng ngay việc xuất than nói riêng và xuất thô tài nguyên nói chung.

Trả giá xuất thô tài nguyên - ảnh 1

Nguyên Khanh

 >> Tiếp tục nhập khẩu than
>> Sau năm 2015 mới phải nhập khẩu than
>> Cấm xuất khẩu tất cả khoáng sản, trừ dầu thô và than đá
>> Giảm thuế xuất khẩu than xuống 10%
>> 3 sai phạm của Hải quan trong thủ tục xuất khẩu than

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU