Bộ trưởng trả lời chưa thỏa đáng

Thanh Niên
Đó là nhận xét thẳng thắn của ĐB Nguyễn Thái Học (Phú Yên) về câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng trong phiên trả lời chất vấn của ĐBQH chiều qua (11.6).

Đó là nhận xét thẳng thắn của ĐB Nguyễn Thái Học (Phú Yên) về câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng trong phiên trả lời chất vấn của ĐBQH chiều qua (11.6).

Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng trả lời chất vấn Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng trả lời chất vấn - Ảnh: Ngọc Thắng

Nhận được nhiều câu hỏi về các vấn đề nóng nhưng đa số câu trả lời của Bộ trưởng Hoàng chưa khiến ĐBQH hài lòng.

Giá điện chỉ biết tăng mãi

ĐB Nguyễn Sĩ Cương (Ninh Thuận) đặt câu hỏi: “Từ khi thành lập ngành điện đến nay, giá điện cứ tăng mãi. Về lý thuyết, nếu nhiều doanh nghiệp (DN) tham gia sản xuất thì giá điện giảm, nhưng điều này đã không đúng với ngành điện?”. Bộ trưởng Hoàng trả lời: “Từ lần tăng giá tháng 8.2013, đến đầu năm 2015, giá điện mới tăng 7,5%. Từ trước đến nay, chúng ta còn bao cấp nên giá điện thấp. Kể từ năm 2015, thực hiện chủ trương điều hành theo cơ chế thị trường nên giá bán điện mới cao hơn giá thành. Nếu theo lộ trình thì đến 2016, giá điện mới hoàn toàn theo thị trường”. Chưa hài lòng, ĐB Sĩ Cương hỏi tiếp: “Nếu còn độc quyền, giá điện còn theo chiều hướng tăng mãi, Bộ trưởng giải trình gì về lộ trình 2016 mà xóa được độc quyền về điện?”. “Theo kế hoạch thì đến năm 2016 sẽ thí điểm thị trường bán buôn điện cạnh tranh, năm 2021 sẽ có thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, lúc đó các nhà sản xuất sẽ tự do bán, khách hàng tự do lựa chọn đơn vị bán điện cho mình”, Bộ trưởng Hoàng trả lời.

Bộ trưởng trả lời chưa thỏa đáng - ảnh 2

Công nghiệp hỗ trợ mới quyết định nâng tỷ lệ nội địa hóa sản xuất ô tô nhưng bao nhiêu năm qua, chưa có chuyển biến đáng kể. Bộ trưởng đã có những tham mưu gì cho Chính phủ?

ĐB Thân Đức Nam

Tôi xin nhận trách nhiệm về việc này. Thực tế, những năm qua, đã có cơ chế, chính sách công nghiệp hỗ trợ nhưng kết quả còn hạn chế

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng

Bộ trưởng trả lời chưa thỏa đáng - ảnh 3

ĐB Thân Đức Nam (Đà Nẵng) nêu câu hỏi: “Hiện nay việc kinh doanh xăng dầu không theo cơ chế thị trường, nhà nước vẫn quản lý giá. Bộ tham mưu cơ chế gì để việc điều hành xăng dầu nước ta cũng theo thị trường như các nước trong khu vực?”. Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đáp: “Hiện nay, cơ chế điều hành giá xăng cũng mới đang từng bước theo cơ chế thị trường. Theo quy định của Nghị định 83/CP của Chính phủ thì VN lấy giá xăng dầu trên thị trường Singapore làm chuẩn, sau 15 ngày sẽ điều chỉnh tăng, giảm tương ứng. Nhưng giá xăng dầu thay đổi luôn có tác động mạnh đến đời sống kinh tế, người dân nên chúng ta vẫn phải dùng thuế, quỹ bình ổn giá xăng dầu để khi điều chỉnh, can thiệp điều chỉnh ở mức hợp lý”.

ĐB Nguyễn Văn Hiến (Bà Rịa-Vũng Tàu) truy vấn: “Mỗi lần cơ quan nhà nước cho tăng chi phí định mức, lợi nhuận định mức là DN kinh doanh xăng dầu công bố lãi thêm hàng ngàn tỉ đồng, làm dư luận ngã ngửa. Cơ chế điều hành giá xăng dầu liệu có kẽ hở không và Bộ sẽ làm thế nào để lợi ích hài hòa cho người dân?”. Đồng tình với cách đặt vấn đề của ĐB Hiến song Bộ trưởng Hoàng cũng phân trần: “Hiện nay, cơ chế điều hành giá xăng dầu mới, mới áp dụng được 6 tháng. Chúng tôi sẽ cùng Bộ Tài chính xem xét cơ chế điều hành, phát hiện những bất cập để nếu cần thiết sẽ bổ sung, sửa đổi”.

“Tôi xin nhận trách nhiệm”

ĐB Thân Đức Nam chất vấn: “Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) mới quyết định nâng tỷ lệ nội địa hóa sản xuất ô tô, nhưng bao nhiêu năm qua, chưa có chuyển biến đáng kể”. Nhận trách nhiệm về vấn đề này, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng thanh minh: “Những năm qua, đã có cơ chế, chính sách CNHT nhưng kết quả còn hạn chế. Vừa qua, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Công thương chủ trì xây dựng dự thảo nghị định về CNHT. Chúng tôi đã soạn thảo, trình Chính phủ nhưng đến nay vẫn chưa được thông qua do có 2 đề xuất không được chấp nhận như hỗ trợ DN qua quỹ CNHT và tăng nhân lực cho các trung tâm trợ giúp CNHT. Chính phủ cho rằng, hiện nay đang phải cải cách, tổ chức bộ máy, không thể tăng thêm người nên việc trình của chúng tôi chưa được tròn trách nhiệm”.

ĐB Lê Trọng Sang (TP.HCM) truy tiếp: “Bộ trưởng có thể khẳng định bao giờ mới ban hành nghị định về CNHT?”. Vẫn không cụ thể, Bộ trưởng Hoàng trả lời: “Chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo này. Đây là món nợ của chúng tôi nên bằng mọi cách Bộ Công thương sớm nhất trình Chính phủ ban hành vì không thể để muộn hơn nữa”.

ĐB Nguyễn Thái Học (Phú Yên) hỏi: “Về các dự án thủy điện, Bộ trưởng NN-PTNT nói Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cần nghiêm khắc xử phạt những nơi chủ đầu tư không thực hiện việc trồng rừng thay thế. Bộ trưởng thấy thế nào? Có tình trạng nhiều dự án không có đất trồng rừng thay thế mà vẫn cấp phép thì trách nhiệm nơi cấp dự án thế nào?”. Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng giải trình: “Chúng tôi đồng tình với ý kiến Bộ trưởng NN-PTNT. Với các trường hợp chây ì, không trồng rừng thay thế thì sẽ thu hồi giấy phép hoạt động điện lực. Nếu không có đất trồng rừng thì báo cáo để Bộ NN-PTNT xem xét, trồng ở nơi khác”. ĐB Nguyễn Thái Học thẳng thắn: “Bộ trưởng trả lời chưa thỏa đáng. Bộ trưởng nói trước đây chưa tính đến trồng rừng thay thế là không đúng vì khi phê duyệt dự án, các báo cáo đánh giá tác động môi trường đều có yêu cầu trồng rừng thay thế. Nhưng do ít chú trọng nên xảy ra tình trạng đó. DN sẵn sàng trồng rừng nhưng đất không còn, vấn đề trách nhiệm cơ quan phê duyệt dự án”. Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói: “Thực sự, nhiều dự án thủy điện trước đây chưa chú ý vấn đề này, đến nay mới kiên quyết bắt trồng bù. Trước nay chưa bắt nên xảy ra tình trạng không trồng bù”.

Bế tắc tiêu thụ hàng nông sản

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng nhận được khá nhiều câu hỏi về vấn đề bế tắc tiêu thụ hàng nông sản. Trả lời chất vấn của ĐB Huỳnh Văn Tính (Tiền Giang): “Vừa qua, nông sản tồn ứ, có mặt hàng nông dân phải đổ bỏ. Bộ trưởng suy nghĩ thế nào và có giải pháp gì để có chuyển biến cụ thể?”, Bộ trưởng Hoàng nói: “Đúng là việc xuất khẩu nông sản vừa qua sụt giảm do giá thấp, nhu cầu một số nước giảm. Bộ Công thương cũng đã đẩy nhanh quá trình ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA), thực hiện các biện pháp xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường... Chúng tôi luôn lưu ý, nông nghiệp vẫn là một lĩnh vực kinh tế quan trọng nên khi đàm phán FTA luôn đặt vấn đề mở cửa thị trường, tạo điều kiện cho một số sản phẩm nông nghiệp mà VN có lợi thế”. Tuy nhiên, trả lời câu hỏi cụ thể của ĐB Trần Khắc Tâm (Sóc Trăng) về tình trạng bế tắc tiêu thụ sản phẩm hành tím ở Sóc Trăng suốt 3 năm qua, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng thừa nhận: “Hiện nay, sản lượng hành tím cả nước đạt 80.000 - 100.000 tấn năm, tiêu thụ 20% trong nước, còn lại xuất khẩu sang Indonesia. Nhưng do Indonesia bắt đầu trồng hành tím, giảm nhập khẩu nhưng thông tin đó đến chúng ta lại không kịp thời. Chúng tôi đề nghị các địa phương xem xét đến việc tiêu thụ hành tím ở nước ngoài không thuận lợi nên cần chú ý thực hiện đúng diện tích quy hoạch trồng hành tím hiện có”.

Bình luận 6

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết
tranthang

tranthang

xin hứa và hứa mãi để rút kinh nghiệm mãi thế này chứng tỏ là không có năng lực thì nên từ chức để người khác làm.
Vu Thanh an

Vu Thanh an

Lấy mức giá Singapore làm chuẩn thì Chính phủ xem lại mức sinh hoạt và mức sống Việt Nam có chuẩn như Singapore không?
bách

bách

Nhìn thấy mà ngán ngẫm
việt

việt

Cần thay đổi cơ bản từ chính sách, đến công tác điều hành lĩnh vực nông nghiệp. Đối với nông sản Việt Nam, bài toán cây, con, thị trường, giá cả và năng lực cạnh tranh được đặt ra từ rất lâu rồi, nhưng đời sống nông dân Việt Nam vẫn nghèo quanh năm, mọi lợi nhuận của người nông dân vẫn trông chờ vào thời tiết, bị lái buôn thì tham tiền, nhưng bỏ lơ trách nhiệm với cộng đồng, các cơ quan lập chính sách thì ra rất nhiều chính sách nhưng không có chính sách nào làm giàu được cho nông dân trực tiếp sản xuất.
Vấn đề nông nghiệp luôn được nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải coi là một quyết sách quốc gia, khi ông luôn kêu goi các cơ quan hoạch định chính sách nông nghiệp quốc gia, phải định hình được chính sách từ trung ương, dựa trên các thế mạnh các địa phương, giúp được nông dân “nuôi con gì, trồng cây gì”, hình thành hệ thống phân phối nội địa, theo hướng phân công lao động quốc gia phù hợp với sự phân công lao động và hệ thống phân phối quốc tế, mới mong nông nghiệp Việt Nam có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế.
Nhưng cho đến nay, dù Nhà nước đã chi một ngân sách khổng lồ cho các viện nghiên cứu, các cơ quan hoạch định và thực hiện chính sách nông nghiệp từ trung ương đến địa phương, nhưng bài toán đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp vẫn là bài toán khó giải, khi chính sách nông nghiệp thì hế hệ bộ trưởng nào cũng có, nhưng Việt Nam còn thiếu gì mà để nông dân Việt Nam không thể sống sung sướng được với sản phẩm nông nghiệp do chính công sức họ làm ra?
Sản phẩm nông nghiệp Việt Nam không cạnh tranh được ngang hàng với hàng hóa nước ngoài trên thị trường thế giới, nông dân tự phải bó tay chịu cho hàng nông sản nước ngoài đè hàng nông sản Việt Nam ngay tại chợ nhà Việt Nam và các sản phẩm phẩm nông nghiệp khác như tình trạng đau xót “Gần 60% táo trên thị trường có nguồn gốc TQ, dân lo nhiễm độc” đã và đang diễn ra nhưng chưa có hồi kết?
Các thế hệ Bộ trưởng, cán bộ công chức ngành Nông nghiệp, khoa học và công nghệ và các ngành khác có liên quan cứ nhậm chức rồi về hưu, nhưng vấn đề nông nghiệp và đời sống của nông dân vẫn mãi được xem như những bài văn mới, vì được đăng trên báo vào thời điểm hiện tại, nhưng các vấn đề vẫn như cũ vài chục năm trước, trong khi vài chục năm trước có nhiều vấn đề nông nghiệp lại tốt hơn bây giờ.
Những sự việc mới xảy ra cho sản phẩm nông nghiệp hôm nay, nhưng bản chất cũ, năm nào chúng ta cũng nói. Chúng ta đã để cho những việc như vậy xảy ra này quá lâu mà chưa sửa! Thành tích nông nghiệp, ở trong báo cáo nào cũng có, nhưng tình trạng đất nông nghiệp ngày càng ít đi, hay tỉnh Ninh thuận, tình hình sản xuất nông nghiệp ngày càng khó khăn hơn, tỉnh này đã phải ban bố tình hình thiên tai, đồng nghĩa với đời sống của người nông dân Ninh Thuận, cũng khó khăn hơn trước là những thực tế tương phản với các báo cáo thành tích.
Tình hình này đòi hỏi trách nhiệm vì lợi ích quốc gia của những nhà lập chiến lược hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. Từ trước đến này, các tỉnh, thành Việt Nam chỉ chăm chăm vào một thị trường Trung Quốc dễ tính theo kiểu “nhất cự ly, nhì cường độ” do thiếu tầm nhìn chiến lược đối với các biện pháp giải quyết tình trạng khủng hoảng, Việt Nam đã hoàn toàn bị động vì thếu giải pháp dự phòng khi sự cố xảy ra với bài toán thị trường này.
Các doanh nghiệp XNK Việt Nam mới sử dụng hàng hóa xuất nhập khẩu để thu lợi ban đầu, còn trách nhiệm với người nông dân và chuỗi giá trị gia tăng sau khi thu mua sản phẩm nông nghiệp tươi, thì gần như bỏ mặc, một trong các lý do chính là khả năng điều tiết kém của hệ thống chính sách, cùng bản lĩnh “ăn non” của doanh nghiệp Việt Nam.
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, sử dụng rổ ngoại tệ để giảm thiểu rủi ro, nhưng trong chiến lược phát triển thị trường nông sản trong suốt thời gian qua, đã thiếu rổ thị trường để có phương án dự phòng trong trường hợp thị trường TQ bất ổn, và thực tế này ít nhất cũng đã bật đèn báo động đỏ cho Việt Nam, cần phải có những nhà lập chiến lược vững vàng hơn, với các giải pháp thị trường thay thế hiệu quả trong tương lai.
Việt Nam là nước có nhiều sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới ngon, chất lượng cao. Nhưng từ rất nhiều năm cứ thầm lặng trôi qua, nông sản Việt Nam chưa bao giờ có một chiến lược phát triển bền vững lấy người nông dân làm trung tâm, chúng ta vẫn để người nông dân đuối sức mà vẫn phải tự bơi trong bàn tay vô hình của thị trường.
Không thể nói tình cảnh hàng hóa nông sản Việt Nam “được giá, mất mùa, được mùa mất giá” là nhất thời, khi điệp khúc này đã diến ra hàng chục năm nay, tiếp tục có những hàng xe tải hàng hóa nông sản, nối dài chờ đợi vô vọng ở các cửa khẩu biên giới với Trung Quốc của nông dân Việt Nam vẫn triền miên từ năm này sang năm khác.
Các hiệp hội, các tổ chức hỗ trợ, các chính sách vẫn đều đặn đến hẹn lại lên nói đến việc bảo vệ quyền lợi người nông dân, các cơ quan truyền thông vẫn liên tục đưa ra các khuyến cáo, các thông tin về tình trạng đáng buồn của người nông dân, nhưng chỉ có người nông dân chịu thiệt thòi như vụ lúa chất lượng cao chất lượng thấp, “ớt cay”, “hoa hồng”, “dưa hấu”, “vải thiều”, “nhãn”, “khoai tây”, “thịt nhập khẩu”, “thanh long”, “táo” và rồi lại quay lại khi đến mùa thu hoạch “dưa hấu, vải thiều...“.
Chúng ta vẫn có các chiến lược, nhưng việc lập chiến lược mà người nông dân vẫn khổ thì cần phải coi lại tại sao và trách nhiệm của người lập chiến lược không đem lại nụ cười cho người nông dân?
Việt Nam vẫn cần các sản phẩm nhập khẩu như một phần của các cam kết quốc tế, để làm phong phú thị trường, làm động lực cạnh tranh cho các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nhưng Việt Nam chưa tạo được sự liên kết và hỗ trợ từ những tổ chức sản xuất hàng hóa của nước ngoài, các tổ chức xuất nhập khẩu với các biện pháp cụ thể ràng buộc trách nhiệm các bên bên đều có lợi trong việc nhập khẩu hàng từ nước ngoài và chiến lược nâng cao chuỗi giá trị cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh đó, công tác thanh kiểm tra hoạt động thương mại phải thừa nhận thực tế phũ phàng là ngay tại Việt Nam, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng chào thua trước các chiêu trò của dân buôn lậu để hàng nông sản nước ngoài đè nông sản Việt Nam mới thấy, người nông dân không thể vừa sản xuất, vừa phải một thân một mình cạnh tranh ngay tại các chợ Việt Nam trước làn sóng hàng nhập khẩu đang ồ ạt tấn công trực diện hoặc đội lốt hàng Việt Nam tại các chợ Việt Nam. Vậy ngành ngoại giao, du lịch và các doanh nghiệp Việt kiều tại sao đến tận bây giời vẫn chỉ là cầu nối, dù chính sách đã có nhiều, các đoàn cán bộ nông nghiệp đi công tác nước ngoài không ít, tiền từ ngân sách Nhà nước cũng chi rất nhiều?
Vậy Việt Nam đã có đội ngũ cán bộ công chức đủ tâm và đủ tầm để hàng hóa nông sản Việt Nam cất cánh bay khắp bốn phương trời chưa?
40 năm sau ngày giải phóng, thống nhất đất nước, các cán bộ đảng viên, sĩ quan, chiến sĩ giải phóng quân bộ đội Cụ Hồ cùng toàn đảng, toàn quân, toàn dân đã để lại một hình ảnh đẹp, như truyền thống hào hùng không chỉ trong các cuộc chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mà còn mang đậm dấu ấn trong việc xây dựng TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam trở thành một điểm đến thân thiện, được các nhà đầu tư quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có môi trường đầu tư ổn định nhất về chính trị, mặc dù còn nhiều khiếm khuyết về hệ thống hành chính cần thay đổi.
Với tư thế của người chiến thắng, các cán bộ đảng viên thế hệ thứ 3, thứ 4, thứ 5 đã lập nên kỳ tích trong việc duy trì sự hoạt động ổn định của lực lượng doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh nhất nước tại TP. Hồ Chí Minh, đóng góp một giá trị lịch sử to lớn trong việc định hình các quyết sách đi tắt, đón đầu và hình thành chính sách chung của cả nước, để gìn giữ, phát triển hệ thống doanh nghiệp tư nhân của TP. Hồ Chí Minh, góp phần tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh những chính sách vĩ mô, thúc đẩy và phát triển hệ thống doanh nghiệp tư nhân trên toàn quốc, xây dựng và phát triển thương hiệu lực lượng doanh nhân Việt Nam trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, ngay tại TP. Hồ Chí Minh, Hà nội, hàng nông sản vẫn chỉ mang lại mối lợi lớn cho thương lái, và hệ thống phân phối. Hàng nông sản Việt Nam vẫn từ trong cái ao làng đi đến thị trường dễ tính nhưng đầy may rủi Trung Quốc, mà chưa bứt phá để khoe mình trên các quầy hàng Âu, Mỹ, Nhật. Đó chính là điều đáng suy ngẫm cho các cơ quan chức năng của Việt Nam phải chăng các cán bộ công chức các bộ ngành liên quan đang ngủ quên trên chiến thắng với một số sản phẩm nông nghiệp mũi nhọn?
Một trong các nhiệm vụ hàng đầu của các cơ quan hoạch định chính sách là công tác làm kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, nhằm phân phối, điều chỉnh và tạo sự cân bằng các nguồn lực một cách hợp lý. Công tác kế hoạch phải đi trước một bước trong việc dự báo chính xác các biến động của tình hình thị trường, đầu tư trong và ngoài nước. Công tác kế hoạch phải thực sự là cơ quan tham mưu sắc bén cho lãnh đạo các cơ quan Nhà nước, người dân và các doanh nghiệp.
Việt Nam thiếu những nhân sự cao cấp trong việc hoạch định chiến lược phát triển bền vững, nhưng cũng phải vừa làm vừa học, vấn đề là phải học thật nhanh, linh hoạt điều chỉnh những kế hoạch ngắn hạn để thực hiện chiến lược theo từng giai đoạn, phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ thiên niên kỷ của Việt Nam, thích ứng tích cực để giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình biến đổi khí hậu, giảm thiểu khí thải CO2 độc hại, đảm bảo thông suốt quá trình phân phối, lưu thông, nâng cao chất lượng sống của người dân.
Việt Nam tự hào là nơi khởi xướng nhiều chương trình mang tầm vóc toàn cầu như “xóa đói giảm nghèo”, nhưng mặc dù Việt Nam có chương trình “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, nhưng chúng ta chưa làm được nhiệm vụ làm cho người nông dân giầu có, khi họ là người chủ gắn liền với quá trình gian khổ làm ra các sản phẩm nông nghiệp, và các nhu yếu phẩm, bao lâu nay, TP. Hồ Chí Minh và các trung tâm kinh tế, xã hội lớn tại Việt Nam và cả thị trường Trung quốc nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam vẫn chỉ là “con gà đẻ trứng vàng” cho các thương lái và các đầu mối. Một điều đáng buồn đến nay, giá trị hàng hóa XNK của Việt Nam với Trung quốc vẫn chiếm một tỷ lệ lớn trong rổ hàng hóa, thị trường và giá trị XNK, là một trong nhiều điểm tối của công tác dự báo và điều chỉnh kế hoạch của Việt Nam, đồng nghĩa với việc khả năng tư duy, trình độ quản lý, sản xuất và công cụ sản xuất của chúng ta vẫn chỉ chủ yếu đáp ứng được việc sản xuất ra những mặt hàng dành cho thị trường dễ tính là trung quốc, mà thiếu các hàng hóa có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
VCCI, một tổ chức quan trọng, nhưng vẫn chỉ đứng đằng sau các cơ quan Nhà nước, dù đại diện cho người nông dân, và các doanh nghiệp, nhưng là cái bóng mờ của người đại diện là các hội, hiệp hội ngành nghề. Nông dân Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam đang vất vả tự bươn chải, VCCI vẫn đều đặn ra các báo cáo và các đề nghị, các nhân viên VCCI hoạt động như công chức Nhà nước, thao tác trên máy tính, bàn giấy bằng cách tổ chức các hội thảo, hội nghị chứ không thực hiện các công tác hỗ trợ cụ thể bằng cách tổ chức và kết nối các hệ thống để các “nhà” nông, và các nhà khác đang được hưởng lợi nhờ tham gia vào quá trình phân phối các sản phẩm nông nghiệp, dù đây là một phần trách nhiệm quan trọng được ghi rất rõ trong quy chế, điều lệ của VCCI, tất cả các hội, hiệp hôi.
Vì các hội, hiệp hội sau khi được thành lập hoạt động kém hiệu quả, hình thức hoạt động mang nặng tính hành chính như một cơ quan hành chính Nhà nước, do các lãnh đạo của các tổ chức này, phần lớn đều có nguồn gốc từ các cán bộ lãnh đạo các bộ, ngành được điều chuyển sang.
Các cán bộ hội, hiệp hội quên mất vai trò thủ lĩnh, dẫn dắt tổ chức của mình tiến đến các mục tiêu mang tầm vóc khu vực và thế giới mà cứ ì ạch quẩn quanh trong các cuộc họp, hội nghị nội bộ, ngành nghề của mình.
Điều bất cập này một phần lớn do lãnh đạo hội đến hiệp hội, phần lớn đều bị sức ỳ tuổi tác, khả năng ngoại ngữ tin học kém, hết mục tiêu phấn đấu, nên đã làm cho vai trò các hội, hiệp hội Việt Nam ngày càng bị lu mờ trong cuộc cạnh tranh của hàng Việt với các hàng hóa nhập ngoại tại khu vực và trên thế giới.
Để tránh các tình trạng năm nào cũng lặp lại trong việc giải quyết bài toán cạnh tranh cho đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp nói riêng và các sản phẩm Việt Nam khác, cần thay đổi cơ bản cơ cấu nhân sự của các tổ chức hội, hiệp hội, hướng đến sự tự nguyện ra đi của các cá nhân “ngồi nhầm chỗ” để các hội, hiệp hội chọn người chiến sĩ dám xả thân vì thương hiệu nông nghiệp và thương hiệu sản phẩm Việt Nam, chúng ta mới thoát khỏi thảm cảnh cho hàng hóa Việt Nam, giúp nông dân Việt Nam thoát nghèo.
Vẫn cái cảnh bức bối của các đoàn xe nông sản phải chực chờ xuất sang Trung quốc, năm nào cũng như năm nào, làm cả nước bồn chồn, lo lắng cho thân phận người nông dân. Chính sách nông nghiệp phải lấy nông dân làm trọng tâm, người nông dân đích thực làm ra các sản phẩm nông nghiệp, nhưng lại bị trở thành con tin của chính sản phẩm nông nghiệp do mình làm ra, khi các giáo sư, tiến sĩ, các viện nghiên cứu từ trung tương đến địa phương, các lãnh đạo các bộ, ngành liên quan cứ hội thảo miết mà không ra giải pháp, làm sao nông dân Việt Nam thoát nghèo?
Các viện nghiên cứu về nông nghiệp từ trung ương đến địa phương ở đâu cũng có, giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư nông nghiệp Việt Nam nhiều vô kể, nhưng hiệu quả của các nghiên cứu khoa học nông nghiệp chưa giúp được nông dân thoát nghèo, thì làm sao nông nghiệp Việt Nam phát triển được? nhưng Việt Nam lại may mắn có những nhà khoa học từ những lão nông dân hai lúa với những sản phẩm cơ khí nông nghiệp làm ra bao nhiêu bán hết bấy nhiêu, nông dân làm ra được cả giống cây, con giống cao sản, sửa chữa, chế tạo được cả xe tăng, thiết giáp được nước ngoài phong tướng, chế tạo cả máy bay, tàu ngầm thương mại được nước ngoài đặt mua, nhưng không có đất dụng võ tại Việt Nam, ngược lại, các giáo sư Việt Nam nghiên cứu cái gì cũng xin tiền ngân sách, nhưng trong danh sách các nhân tài đất việt, toàn những nhà khoa học chuyên nghiệp ăn lương Nhà nước, mà không có những lão nông khoa học?
Vấn đề nóng là từ phòng thí nghiệm nông nghiệp chuyên nghiệp, lại không triển khai được ra môi trường thực tế, là vấn đề muôn thủa của giới khoa học công nghệ Việt Nam, nơi có quá nhiều tiến sĩ, giáo sư, đua nhau giành hết giải này giải nọ về nghiên cứu, nhưng lại thua các tự nghiên cứu ra các giống cây, con, công cụ sản xuất của nông dân dù nông dân không được Nhà nước đầu tư, hỗ trợ. Trong khi sản phẩm của các nhà khoa học bàn giấy sản xuất ra có Nhà nước tài trợ thì trùm mền không bán được.
Phải chăng các viện này, học viện kia chỉ là nơi treo biển quảng bá cho chức danh Tiến sĩ này, giáo sư kia mà thôi?
Đó là điều không ngạc nhiên dựa trên tổng thể các sự kiện về sản phẩm nông nghiệp Việt Nam xảy ra trong suốt thời gian qua, nhưng nó lại nằm ngoài khả năng xử lý của các chuyên gia kinh tế Việt Nam.
Trên các mặt báo, các báo cáo của các tổ chức Việt Nam, chúng ta luôn lạc quan về tình hình phát triển của kinh tế Việt Nam, nhưng nền kinh tế Việt Nam dựa vào xuất khẩu, trong khi một loạt các quốc gia trên thế giới đã giảm chi tiêu, giảm tốc độ phát triển. Về tình hình chính trị quốc tế, tình hình khủng bố, các cuộc xung đột và khủng hoảng khu vực cũng nằm ngoài dự báo của chúng ta.
Ngay cả với đối tác thân thiện đang cần các sản phẩm nông nghiệp, là tình hình thị trường nông sản Nga, chúng ta cũng đang bị động và chưa thể tận dụng cơ hội này, người thua thiệt nhất chính là nông dân, họ không trực tiếp bắt tay được với các doanh nghiệp Nga, vậy ai trực tiếp được bắt tay và sau cái bắt tay hàng hóa nông sản Việt Nam có mở rộng đường và cửa vào thị trường Nga trở lại không? Các hội ngành nghề, các chủ doanh nghiệp và các cơ quan lập chính sách của Việt Nam đã tăng tốc tối đa hay vẫn còn loay hoay nghiên cứu thì cơ hội tại thị trường Nga một lần nữa sẽ vuột khỏi tay chúng ta mà chuyển qua các thị trường khác, mà chúng ta chỉ biết thở dài “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.
Người làm nhiều nhất là nông dân, vẫn khổ nhất, dù đóng góp nhiều nhất cho các bữa ăn hàng ngày của xã hội, nhưng quyền lợi của người nông dân vẫn chênh vênh!
Dương Văn Tuấn

Dương Văn Tuấn

Theo dõi phiên chất vấn của các Bộ trưởng mà nản. Giá điện tăng không bao giờ giảm, xăng dầu thì tăng bạc nghìn, giảm bạc chục... Giáo dục thì trường ĐH mở tràn lan, chất lượng đào tạo thì kém. Thử hỏi nước ta có trường ĐH nào được xếp hạng top 10 châu Á? Lỗi từ đâu?
Xem thêm bình luận

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU