Những sinh hoạt và gu thời trang 'độc, lạ' của người Sài Gòn xưa

04/04/2021 14:00 GMT+7

Đầu thập niên 1860, ở Sài Gòn có nhiều con đường lớn bắt đầu xuất hiện với lối kiến trúc kiên cố: dinh Đổng lý Nội vụ - còn gọi là Dinh thượng thơ (Direction de l’Intérieur -1864), dinh Thống đốc (Palais du Gouvernement -1868), nhà thờ Lớn (1877)…

Đến năm 1865, Sài Gòn khi ấy đã có 15,350 km đường lộ, hai bên đường đều có trồng cây, thường là me, bàng hay tếch. Ban đêm, các con đường được thắp sáng bằng đèn dầu dừa.
Trong tác phẩm Histoire de la conquête de Cochinchine en 1861 (Lịch sử cuộc chinh phục Nam kỳ năm 1861), Léopold Pallu de Barrière đã mô tả  Sài Gòn năm 1859 như sau: “Du khách đến Sài Gòn thoáng thấy trên hữu ngạn của con sông một loại đường sá mà hai bên bị đứt đoạn từng quãng một bởi những khoảng không gian trống trải. Nhà cửa phần lớn bằng gỗ lợp lá dừa, một số khác, ít hơn, xây bằng đá. Hàng ngàn chiếc thuyền chen chúc nhau trên bờ sông, hình thành một ngôi làng nổi…” (tác giả tạm dịch).

Tháp nước xây dựng năm 1878, phá hủy năm 1921, nơi đây nay là Hồ con rùa

Ảnh: T.L của nhà nghiên cứu Lê Nguyễn

Những thập niên 1860 - 1870, phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân miền Tây là ghe thuyền, đậu chật ních các bến sông. Chúng được dùng chuyên chở hàng hóa từ các vùng xa đến Sài Gòn mua bán, đưa rước khách sang sông hay di chuyển trên những quãng sông ngắn. Phần lớn cư dân Sài Gòn đi bộ, người giàu có thì sử dụng xe kíếng (malabare), loại xe bốn bánh do một ngựa kéo, thùng xe bằng gỗ có cửa kính để khách ngồi trong xe có thể nhìn thấy quang cảnh trên đường đi; điều khiển xe thường là người Mã Lai, gọi là xà ích (sais, gốc tiếng Mã Lai).
Đến cuối thập niên 1880 thì Sài Gòn, Chợ Lớn bắt đầu có xe kéo, làm phát sinh thêm một thành phần mới trong xã hội thuộc địa là phu xe kéo. Người ta còn đọc thấy trong biên bản họp của Hội đồng thành phố vào ngày 20.1.1888 một tờ trình cho viên đốc lý Sài Gòn, đề nghị cho lưu hành xe kéo tại Sài Gòn vì ở Chợ Lớn, chính quyền đã cho loại xe này hoạt động rồi.

Thời trang tóc búi tó "không đụng hàng" của người Sài Gòn xưa

Thời đó, người Sài Gòn, nam cũng như nữ, đều mặc quần dài và áo rộng, tóc cũng đều cuộn lại thành búi tó. Quan sát kỹ mới thấy ở phụ nữ, búi tó nằm ở vị trí cao hơn, phía trên đầu, chiếc áo rộng cũng dài hơn. Về vóc dáng người Sài Gòn đầu thế kỷ 20, đàn ông ít khi vượt quá 1,60 mét chiều cao, phụ nữ còn thấp bé hơn nữa. Mặc dù vậy, họ là những người chèo xuồng rất thiện nghệ. Các phu kéo xe cũng thế, họ có thể kéo dễ dàng một người Âu nặng gấp đôi trọng lượng cơ thể họ.
Để làm sạch đường phố trong mùa khô, chính quyền thành phố Sài Gòn cho xe đi tưới nước trên đường mỗi ngày hai, ba, thậm chí bốn lần. Đến thập niên 1880, đường phố Sài Gòn đã có 5 đại lộ, 39 đường và 3 bến tàu, dài tổng cộng 36,635 km; so với năm 1865, đã tăng thêm hơn 20 km. Trước năm 1878, nước uống của cư dân thường lấy từ các giếng đào cạn hay sông, rạch nên không đảm bảo vệ sinh. Sau này, chính quyền Pháp cho lấy nước từ một con suối, đưa vào bể lọc và cung cấp cho dân thành phố mỗi ngày 16.000 mét khối nước. Năm 1878, một tháp nước khổng lồ được xây dựng ở đầu đường Catinat, tại vị trí nay là Hồ Con Rùa. Tháp nước này tồn tại được 48 năm, đến năm 1921 thì bị phá hủy.
Ở Sài Gòn đầu thế kỷ 20, mỗi chiều người ta thấy từng tốp công nhân bản xứ trên đường đi làm về. Nổi bật trong số họ là các “thầy thông ngôn”, không búi tó như hầu hết dân bản xứ. Họ đã húi tóc ngắn (như phong trào cúp tóc năm 1907), mặc quần dài trắng, mang giày tất ngắn, đầu đội khăn nhiều nếp. Các nông dân mặc quần dài trắng, áo rộng màu xanh sẫm, đôi khi vá chằng vá đụp. Họ đi hàng một bên đường, người này bước sau người kia, chân không mang giày dép gì cả.
Một vài người cầm trên tay một đôi giày păng-túp (pantoufle) kiểu Tàu, chỉ cầm mà không mang, cố để dành cho những dịp trọng đại, tay kia cầm một chiếc dù che trên đầu. Đối với người nông dân ở Sài Gòn thời đó, có một chiếc dù, loại dành cho các quan lại khi xưa là một điều hãnh diện lớn. Còn công nhân làm ở các hãng xưởng thì thay cho chiếc khăn quấn quanh đầu như các thầy thông ngôn là một chiếc khăn mùi soa (mouchoir) hoặc một mảnh vải nhỏ quấn vụng về trên búi tó.

Một phụ nữ Sài Gòn năm 1908, đầu bới cao

Ảnh: T.L của nhà nghiên cứu Lê Nguyễn

Phụ nữ Sài Gòn xưa cũng như đàn ông, không bao giờ đi sóng đôi trên đường. Từ chợ về, họ gánh hai chiếc giỏ cân bằng nhau nên bước chân vẫn nhẹ nhàng. Để đổi chiếc đòn gánh qua vai khác, họ chậm bước chân lại, cúi đầu xuống và đưa chiếc đòn qua cổ, ít khi chịu đặt quang gánh xuống đất. Những phụ nữ bản xứ có mức sống cao thì ngồi xe kéo, đầu đội một chiếc khăn bằng lụa màu nhạt hoặc dùng một chiếc trâm bằng vàng cài lên chiếc búi tó đen nhánh.
Khi mặt trời đã ngả về Tây, các gia đình người Việt ở Sài Gòn tụ họp trước túp lều, bên cạnh mâm cơm. Nếu bữa cơm đạm bạc chưa được người nội trợ lo xong thì người cha hay người đàn ông trong gia đình lo việc bồng ẵm đám trẻ nhỏ. Lúc trời đã tối mịt, người ta đốt đèn dầu trên các bàn thờ và thắp hương. Tất cả vào nhà đóng cửa lại. Sự im lặng của khu xóm thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi tiếng khóc của một đứa trẻ và lời ru nhè nhẹ của người mẹ. (Còn tiếp)
 
Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.