Giáo sư Hồ Ngọc Đại: Khi người ta không biết gì mà cứ nói thì đừng chấp

Thanh Niên Online
Chia sẻ trong cuộc tọa đàm sáng nay, GS Hồ Ngọc Đại cho biết ông không để ý tới “cơn bão mạng” xung quanh cuốn Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục. GS Đại nói đó là những chuyện vớ vẩn và ông không chấp.
GS Hồ Ngọc Đại tại cuộc tọa đàm - Ảnh Anh Hoa
GS Hồ Ngọc Đại tại cuộc tọa đàm
Ảnh Anh Hoa
Hôm nay (8.9), tại Hà Nội, Hội Truyền thông số đã tổ chức sự kiện Café số có chủ đề về giáo dục mà GS Hồ Ngọc Đại là khách mời và nội dung xoay quanh công nghệ giáo dục của ông, bao gồm cả những chỉ trích của cộng đồng mạng dành cho cuốn Tiếng Việt lớp 1 của ông.
“Vụ vớ vẩn…”
Trong cuộc tọa đàm, GS Hồ Ngọc Đại kể về con đường đưa ông đến với công nghệ giáo dục cũng như những lý do để trường Thực nghiệm ra đời năm 1978. Tham vọng của ông là có một nơi để thực hành lý thuyết giáo dục của ông, từ đó tạo cơ sở để ông xây dựng một nền giáo dục mới, một nền giáo dục hiện đại cho đất nước.
GS Hồ Ngọc Đại bày tỏ quan điểm: “Nền giáo dục hiện đại là nền giáo dục mà trước đó chưa hề có. Phương châm giáo dục cũ là noi gương các bậc thánh hiền, phấn đấu theo cái này khác. Tôi thì không. Mỗi người phải trở thành chính nó. Một nền giáo dục hiện đại là làm sao để mỗi người trở thành chính nó, xứng đáng với chính nó, không noi gương ai cả, không
Tôi có thể yên tâm mà nói rằng, cho dù tất cả công trình của tôi vô nghĩa đi chăng nữa thì cuốn tiếng Việt lớp 1 cũng an ủi tôi. Bởi trong đó nó thể hiện những lý thuyết về tư tưởng khoa học, những tư tưởng về tâm lý học, những triết học về cuộc đời.
GS Hồ Ngọc Đại
thành ai cả”.
Theo GS Đại, khi thành lập trường Thực nghiệm, ông muốn xây dựng một nền giáo dục mới trên cơ sở một lý thuyết không thể bắt bẻ được, trên một kỹ thuật không thể có kỹ thuật nào hơn được. Nhưng GS Đại cũng lưu ý thêm, tất nhiên mỗi thời đều có kỹ thuật của nó. Điều quan trọng là kỹ thuật đó có giá trị như thế nào trong lịch sử phát triển của vấn đề, nó tạo nên bước ngoặt lớn hay chỉ là một bước cải tiến, kế thừa các thành tựu trước đó. GS Đại tự đánh giá, nếu xét từ góc độ này thì công nghệ giáo dục là một bước ngoặt lớn trong nền giáo dục nước nhà.
“Việc tôi mở trường Thực nghiệm, hành vi đó là có trách nhiệm nhất với đất nước. Tôi lấy cá nhân làm cơ bản, mà những tư tưởng như thế dễ bị phản ứng lắm”, GS Đại nói, đồng thời cho hay việc làm của ông là “có công”, bởi ông đã dỡ bỏ cái cũ để xây dựng cái mới.
GS Đại chia sẻ: “Ngày xưa có khẩu hiệu thầy giảng thật hay, trò dễ ghi nhớ. Tôi mở trường Thực nghiệm thì đưa ra khẩu hiệu: Chừng nào thầy không giảng, và trò không cần cố gắng thì nền giáo dục ấy mới lành mạnh”. GS Đại tự đặt câu hỏi “có phi lý không?”, rồi tự trả lời bằng một ví dụ: “Như lúc anh ngồi trên ô tô để di chuyển chẳng hạn, anh có cần cố gắng hơn? Trẻ con làm sao mà học không có cảm giác là học, nhưng thực ra là học, thì mới gọi là học. Tức là những việc đó phải tự nhiên, như hít thở không khí. Và muốn tự nhiên nhất thì phải hợp lý nhất, phải đúng nhất”.
Mấy chục năm qua, ông bị nhận nhiều tiếng chê nhưng không “ai” làm được gì, Thực nghiệm vẫn tồn tại. Vì thế, với ông, “cơn bão mạng” mấy tuần nay với cuốn sách Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục là một “vụ vớ vẩn”, và ông không chấp. Trong cuộc tọa đàm, nhiều lần GS Hồ Ngọc Đại nhắc lại câu nói: “Khi người ta không biết gì mà người ta vẫn cứ nói thì đừng có chấp. Không nên bực tức vì điều đó".
"Tôi dùng những gì nhân loại đã có"
Theo GS Hồ Ngọc Đại, cuốn Tiếng Việt 1 thì ông là người viết lại cái bản thảo cuối cùng, ký tên ông. Nhưng nó là sản phẩm có sự đóng góp của hàng chục, hàng trăm và thậm chí hàng ngàn người. Ông ký tên mình là để tự chịu trách nhiệm về nó. Theo ông, việc người dân Việt Nam, cho dù đã học đến lớp 10, thậm chí đại học, viết sai là vô lý. “Trẻ con 6 tuổi nói sõi, 7 tuổi nói đúng, 8 tuổi nói chuẩn, 9 tuổi nói hay, can cớ gì viết sai? Viết sai là do anh không biết dạy, do anh dạy sai”, GS Đại tự hỏi rồi tự trả lời.
GS Đại khẳng định: “Tôi dạy trẻ con học hết lớp 1 công nghệ giáo dục, bất cứ ở vùng nào của đất nước này, miền xa xôi hẻo lánh nhất, anh có ra khỏi nhà hay không không quan trọng, đến trường hay không không quan trọng, biết tiếng Việt hay không không quan trọng, miễn là 6 tuổi, đến học với tôi 1 năm, đọc thông viết thạo, viết đúng chính tả, không thể tái mù chữ. Đọc thông viết thạo nghĩa là thế nào? Là viết ra đọc được, là nghe người ta đọc thì anh viết được".
"Tôi dùng những gì nhân loại đã có, chứ tôi không có sáng kiến gì đâu. Thí dụ tiếng Việt lớp 1 là thành tựu 300 năm nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt, tổng kết lại làm giáo trình cho SV năm 3 trường ĐH Tổng hợp (nay là ĐH Quốc gia Hà Nội) năm 1977. Năm 1978 tôi đưa vào lớp 1 dạy khóa đầu tiên, mà học trò khóa đó có Ngô Bảo Châu", GS Đại nói. Rồi ông nêu một ví dụ khác :"Phát âm chữ a, bờ, cờ không phải là tôi, mà là ông Hoàng Xuân Hãn đưa ra. Ở lớp bình dân học vụ người ta dạy, i tờ có móc là 2, i ngắn có chấm tờ dài có ngang. Chứ trước kia là a bê xê, nên mới đọc là bê a ba. Đã bê lại còn a ba được, ngớ ngẩn thế mà người ta vẫn cho là đúng".
GS Đại cho biết, ngay từ lớp 1 của Ngô Bảo Châu hồi đó học kỳ 1 các học sinh không học chữ, học toàn hình vuông hình tròn hình tam giác. "Bởi học sinh phải nắm được tiếng, mà tiếng thì biểu thị gì chẳng được. Cho nên học sinh của tôi biết 2 cái quan trọng nhất : vật thật và vật thay thế. Vật thật là cái gì, và cái gì là vật thay thế", GS Đại nói.
Theo giải thích của GS Đại, vật thật là tiếng nói, là âm nghe được. Chữ là một trong những vật thay thế chứ không phải vật thay thế duy nhất, vì có nhiều vật thay thế. Vật thay thế là trò chơi, là quy ước, mà quy ước thì có luật lệ của quy ước. Học tiếng Việt của công nghệ giáo dục, trẻ con ngay từ lớp 1 phải biết được những điều đó. Biết âm a được thay bằng một chữ a. Âm bờ được thay bằng một chữ b. Gờ được thay bằng hai chữ g và gh. Ngờ được thay bằng 2 chữ ng, ngh. Một âm cờ thay bằng ba chữ c, k, q.
GS Hồ Ngọc Đại chia sẻ: “Nếu học tiếng Việt theo sách của tôi, anh mở trang 24 thì tôi biết 23 trang trước học thế nào. Chỗ nào làm tốt, chỗ nào chưa làm tốt. Đến trang 124 thì tôi biết 123 trang trước anh học như thế nào… Như thế nghĩa là học sinh phải làm thế nào để mỗi một thành tựu trong quá khứ phải được nuôi sống đứa trẻ cả đời chứ không phải học xong, thi xong là thôi. Chương trình thiết kế công phu đến thế, nhất là chữ Việt. Anh học chữ nào chắc chắn chữ đó. Cho nên không thể tái mù được”.