Vài chuyện bình thường ở Kuala Lumpur

0

Kiến trúc ở KuaLa Lumpur - Malaysia chịu ảnh hưởng kiến trúc châu Âu, nhưng không mất đi sắc thái Hồi giáo. Nhiều nhà cao tầng mà vẫn bảo đảm một không gian đô thị rất sâu, không dựng đứng san sát như ở các thành phố công nghiệp khác. Sân bay KuaLa Lumpur rộng đến mức không nhìn thấy đâu là ranh giới. Anh bạn ở Đài Truyền hình Việt Nam đi chung với tôi đoán rằng nó rộng gấp 20 lần sân bay Tân Sơn Nhất chứ chẳng chơi… Nhưng tôi “ấn tượng” không phải những việc này. Có 3 mẩu chuyện về văn hóa hành xử của người Mã - bình thường thôi, nhưng làm tôi suy ngẫm mãi…

Chuyện thứ nhất
Vài chuyện bình thường ở Kuala Lumpur - ảnh 1

Cục trưởng cục quản lý lao động ngoài nước - Ông Nguyễn Thanh Hoè thăm công nhân Việt Nam đang làm việc tại Kuala Lumpur Malaysia - ảnh N.Thủy. 

Tối hôm đó chúng tôi đi ăn ở một quán ăn của người Hoa dưới chân một sườn đồi nhỏ. Khi thức ăn dọn ra, anh trưởng đoàn bảo “cứ ăn thoải mái, nhưng phải cẩn thận, coi chừng bị phạt”. Hỏi mới biết: khi ăn, thực khách không được để thừa thức ăn. Nếu chẳng may nhà chức trách đi ngang qua, phát hiện thức ăn còn quá nhiều trên bàn; dĩ nhiên thực khách đã gọi món gì ra thì phải trả đủ tiền những món ấy; không những thế còn phải trả thêm một khoản phạt vi cảnh cho hành vi phung phí của mình, tùy theo trị giá của thức ăn còn thừa. Nếu người Âu coi việc “ăn hết” là thái độ lịch sự với chủ quán, với người đã chế biến ra nó, thì với người Mã áo cơm là những ân đức mà thánh Allah đã ban cho họ, để thừa sẽ có tội. Thực ra đó chỉ là cái cớ. Chính quyền Malaysia đã biết vận dụng những điều răn tích cực trong tôn giáo để thực hành tiết kiệm; và họ đã thực hành rất hiệu quả. Điều này, hồi nhỏ tôi cũng được dạy. Quê tôi ở tận Miền trung; để có đủ bữa ăn cha mẹ tôi phải còng lưng tát nước ruộng. Nồi cơm nấu nửa khoai, nửa gạo. Đến bữa ăn cha tôi vẫn thường dặn: hạt cơm là “hạt ngọc của trời”, không được làm rơi vãi, không được “bỏ mứa”. Những năm tiểu học, thầy tôi dạy câu ca dao buồn “Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”. Hiểu được nỗi cơ cực một nắng hai sương của cha mẹ, nghe lời thầy giáo, tôi đã bỏ được thói quen… gắp khoai ném ra sau lưng. Nhưng rồi lớn lên, vào đời,… vào quán tôi lại quên. Hàng trăm buổi tiệc; chiều chiều í ới nhau “độ” này, “độ” kia; rưọu bia ngất ngưởng; “mồi”, thịt ê hề…, nhưng không ai trong số đám bạn tôi nhắc phải ăn cho hết những “của trời cho”, và cũng không thấy ai phạt vạ gì. Cứ thế, người ta phung phí; phung phí không cơ man nào tả nỗi.  Ở KuaLa Lumpur hôm ấy, lần đầu tiên váo quán chúng tôi đã ăn hết khẩu phần của mình. Chuyện thứ hai Khu tôi ở là tòa nhà 8 tầng ở quận trung tâm thủ đô KuaLa Lumpur, cách tòa tháp đôi nổi tiếng chừng hơn hai cây số. Nhìn xéo sang bên kia đường là một cánh rừng, rộng cỡ như Thảo cầm viên Sài Gòn. Thật lạ! Giữa thành phố sầm uất, người xe đông đúc lại tồn tại một tác phẩm “thiên nhiên” đến như vậy. Rừng nhân tạo nhưng không khác mấy so với một cánh rừng nguyên sinh, bên trong lá cây mục rữa, rong rêu phủ đầy, không hề có dấu chân người. Hơn 7 giờ sáng chúng tôi mới thức dậy, ra lan can nhìn xuống, đường phố vẫn còn vắng người. Tôi rủ anh Thế Lân báo Nhân Dân lội bộ ra tháp đôi xem hàng siêu thị. Đến một giao lộ lớn cách tháp đôi chừng 500 mét, thấy vắng xe và phần vì ngại anh Lân đứng chờ bên kia đường (anh Lân đi rất nhanh và thường bỏ xa tôi 20-30 mét) nên tôi…bước đại xuống đường, dù lúc ấy là đèn xanh cho xe. Mới đi qua được hai làn xe, tôi hoảng hồn vì từ hai phía hàng chục chiếc Proton (xe hơi do người Mã sản xuất) lao đến với tốc độ… 70-80 km/giờ. Trong nội ô KuaLa Lumpur, xe hơi vẫn chạy nhanh như thế. Trong khi chưa biết xử trí thế nào, thì đột nhiên khi còn cách tôi chừng 10 mét tất cả xe dừng lại, dù đèn tín hiệu vẫn còn xanh cho xe. Tôi cứ ngỡ sẽ bị các bác tài quát cho “đi như thế à, muốn chết hả” mà các bác tài xe đò bên mình vẫn thường đập vào thùng xe và “quát” như thế với người đi đường. Nhưng không, tất cả đều chờ tôi đi qua; cho đến khi tôi bước hẳn lên lề, rồi họ mới chạy. Nếu họ “quát” thay vì lịch sự với tôi như thế, tôi đỡ… nhột hơn. Vừa đi tôi vừa miên man nghĩ : ước gì đất nước mình cũng xây dựng được một nền văn hóa giao thông coi trọng sinh mạng con người như thế? Chuyện thứ ba Người dân KuaLa Lumpur dậy rất trễ, 9 giờ sáng công sở mới mở cửa. Dậy sớm, rỗi rãi không biết làm gì, từ lầu 4 tôi lội bộ xuống tầng 2 - nơi có khoảng không gian lộ thiên với ghế đá, vườn hoa và khoảng 7-8 cái shop phục vụ cho nội bộ người dân thuê ở trong chung cư. Đã 8 giờ sáng, nhưng chỉ có một cái shop bán bánh kẹo là sáng đèn. Tôi vào mua một ít bánh kẹo - khoảng 300.000 VNĐ. Vì quên mang theo ringgits - tiền Mã, nên tôi đề nghị được trả bằng tiền Việt, nhưng anh chủ quán không chịu. Tôi xin chuyển sang trả bằng tiền “đô” và chấp nhận quy đổi lỗ một chút cũng được, nhưng anh ta cũng cương quyết không chịu, một mực nói chỉ nhận tiền ringgit vì đó là quy định của chính phủ, mặc dù hôm ấy chỉ có tôi và anh ta. Thấy tôi có vẻ không hài lòng, ngần ngừ không chịu đi, anh ta giải thích rằng không phải anh ta chê tiền “đô”; thỉnh thoảng anh vẫn gom góp tiền ringgit đến ngân hàng mua đô la Mỹ về nhà cất giữ. “Nhưng nếu tôi bán cho anh thì coi như tôi bán luôn lòng tự trọng của mình”, anh ta nói. Lội bộ cầu thang rất mỏi, lại không “hoàn thành nhiệm vụ” mua quà cho con ở nhà, vậy mà tôi vẫn vui. Vui vì lâu lắm rồi mới được nghe người ta nói đến lòng tự trọng dân tộc; nói và làm trong một hoàn cảnh rất cụ thể. Và cũng như hôm băng qua đường vi phạm luật giao thông, tôi lại miên man nghĩ: “ước gì…”.

Chí Thảo

Bình luận

User
Gửi bình luận
Hãy là người đầu tiên đưa ra ý kiến cho bài viết này!

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU