‘Chi toán pháp’ và tiết lộ những ngón tay người biểu thị các con số 'bí ẩn'

0 Thanh Niên Online

Đánh giá tác giả

Trên thế giới có những cách tính nhẩm bằng các ngón tay gọi là ‘Chi toán pháp’, ví dụ cách tính hệ nhị phân bằng ngón tay (Finger binary), ở đây xin giới thiệu cách tính của Hàn Quốc gọi là Chisanbop.

Chi toán pháp (Hàn: 지산 법) là phép tính nhẩm bằng các ngón tay xuất phát từ Hàn Quốc. Chi [지: ji] có nghĩa là ngón tay, toán pháp [산법:sanbeop) là phép tính, thường được phiên âm sang mẫu tự Latin là Chisanbop hoặc Chisenbop, còn tiếng Anh là Fingermath. Đây là phương pháp đếm ngón tay giống như bàn tính, dùng để thực hiện các phép toán cơ bản.

‘Chi toán pháp’ và tiết lộ những ngón tay người biểu thị các con số 'bí ẩn' - ảnh 1

Quyển Chi toán pháp toàn tập (The Complete Book of Chisanbop) của Sung Jin Pai và Hang Young Pai, xuất bản bằng tiếng Anh

amazon.com, yumpu.com

Theo quyển Chi toán pháp toàn tập (The Complete Book of Chisanbop) của Hang Young Pai (裴恒榮) thì từ những năm 1940, Sung Jin Pai (裴成珍) đã phát minh và biên soạn phương pháp này tại Hàn Quốc, về sau con trai ông là Hang Young Pai chỉnh lý rồi đưa cách tính này đến nước Mỹ vào năm 1977.

Ký hiệu ngón tay biểu thị cho những con số

Giới nghiên cứu cho rằng Chi toán pháp dễ sử dụng hơn bàn tính vật lý dành cho học sinh khiếm thị. Bằng phương pháp này ta có thể hiển thị tất cả các số từ 0 đến 99 trên hai bàn tay và thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân và chia các số.

Đặt hai bàn tay lên bàn trước mặt, khép lại như hai nắm đấm. Điều này đại diện cho số không.

Mỗi ngón tay (ngoại trừ ngón cái) của bàn tay phải có giá trị là 1. Bung ngón trỏ của bàn tay phải ra, ấn xuống bàn để biểu thị cho số 1. Nhấn ngón trỏ và ngón giữa xuống bàn là số 2; nhấn ba ngón ngoài cùng bên trái là số 3; ấn cả bốn ngón tay của bàn tay phải là biểu thị cho số 4.

‘Chi toán pháp’ và tiết lộ những ngón tay người biểu thị các con số 'bí ẩn' - ảnh 2

Ấn ngón cái của bàn tay phải xuống bàn đại diện cho số 5, trong lúc đó nhấc tất cả các ngón tay lên khỏi bề mặt. Nhấn ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải lên bàn là 6. Nhấn ngón giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út bên phải là 7, 8 và 9.

Bàn tay trái thể hiện chữ số hàng chục. Nó hoạt động giống như bàn tay phải, nhưng mỗi giá trị được nhân với 10. Mỗi ngón tay trên bàn tay trái đại diện cho 10, riêng ngón tay cái bên trái đại diện cho 50.

Như vậy, khi nhấc tất cả các ngón của bàn tay phải lên, ấn ngón trỏ trái xuống bàn tính là 10.

‘Chi toán pháp’ và tiết lộ những ngón tay người biểu thị các con số 'bí ẩn' - ảnh 3

Ký hiệu ngón tay biểu thị cho những con số

youtube.com, dealtoday.vn

Ấn ngón trỏ trái xuống bàn, rồi nhấn lần lượt ngón trỏ, giữa, áp út và ngón út của bàn tay phải để tính 11, 12, 13 và 14. Ấn ngón trỏ trái và ngón cái phải xuống đồng thời nhấc những ngón tay phải còn lại lên để tính số 15. Lần lượt ấn các ngón trỏ, giữa, nhẫn và ngón út bên phải xuống để đếm đến 16, 17, 18 và 19. Cứ thế mà tính tiếp.

Hiện nay Chi toán pháp (Fingermath) phổ biến nhiều nơi trên thế giới. Cách tính này cũng được dạy tại Việt Nam, dành cho trẻ em. Các bậc cha mẹ có thể tìm những nơi dạy Chi toán pháp ở địa phương để đưa con em đến học hoặc tìm hiểu trên internet rồi hướng dẫn con em mình tự học.

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU